Leaderboard Ad

Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

0

Mang thai hộ mang tới niềm hy vọng cho nhiều cặp vợ chồng vô sinh tuy nhiên cần phải thỏa mãn những điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và xác nhận mang thai hộ chứ không phải ai muốn cũng có thể nhờ người mang thai hộ được. Do đó các cặp vợ chồng nên tìm hiểu thật kỹ về điều kiện mang thai hộ hoặc liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn mang thai hộ trực tiếp và miễn phí về luật mang thai hộ cũng như xác nhận mang thai hộ.

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định nhờ mang thai hộ là vì người vợ không có khả năng sinh con, tuy nhiên vợ chồng muốn duy trì hạnh phúc hay là nuôi con nuôi, hay là nhờ người mang thai hộ để có đứa con chung là niềm vui, là niềm hạnh phúc của vợ chồng hiếm muộn. Căn cứ vào đó, nhờ mang thai hộ trước tiên phải mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, hơn nữa cũng thể hiện tính nhân văn sâu sắc, nó không được làm tổn thương hạnh phúc gia đình, do được thể hiện bằng nguyện vọng chính đáng, bằng sự đồngthuận của hai bên và điều quan trọng nhất là vợ chồng đó đã biết được khả năng sinh sản của bản thân mình, nếu họ không đồng ý nhờ mang thai hộ thì có thể họ ly hôn, hay sẽ gây hậu quả khó lường trong cuộc sống.

Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều vấn đề cần phải phải bàn luận đối với người được nhờ mang thai hộ nhằm bảo đảm cho việc nhờ mang thai hộ có tính khả thi và đi vào đời sống thì cần phân tích đối với điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định của pháp luật : Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hay bên chồng nhờ mang thai hộ.

Quy định về việc sinh con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: Người thân  cùng hàng của bên vợ hay bên chồng nhờ mang thai hộ gồm có: Anh/ chị/ em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh/ chị/ em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể/ em rể/ chị dâu/em dâu của người cùng cha mẹ hay cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ.

Do đó, người nhờ mang thai hộ và người được nhờ mang thai hộ có thể là người có cùng dòng máu về trực hệ, người có họ trong phạm vi 3 đời và những người có quan hệ thân thích khác của bên người vợ hoặc bên người chồng nhờ mang thai hộ.

Để cho Điều 95 của Luật HNVGĐ được khả thi và đi vào thực tế đời sống, cần phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề sau:

– Con ruột của người mang thai hộ và con nhờ mang thai hộ có kết hôn được với nhau không?.

Nếu theo Điều 94 của Luật HNVGĐ quy định: “Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”. Nếu 2người con này cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ trong phạm vi 3 đời thì không được kết hôn.

Giả sử, Chị Trần Thị P là em ruột của anh Trần Văn L có 1 người con tên Đinh Văn T. Trần Thị P được anh ruột Trần Văn L và chị dâu Đỗ Thị S nhờ mang thai hộ sinh ra người con Trần Thị X. Sau khi X ra đời, X không phải là con của chị P mà X là con của anh L và chị S. Do đó, T và X không kết hôn với nhau bởi có quan hệ huyết thống con cô cậu ruột.
Khi người nhờ mang thai hộ và người được nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đao có dòng họ đã là đời thứ 3 thì 2 người con này là đời thứ 4 thì kết hôn được với nhau bởi không vi phạm điều cấm theo Khoản 2 Điều 5 Luật HNVGĐ.

 – Nhờ mang thai hộ có bị loạn luân không?
Ví dụ , Nguyễn Thị C sinh ra Trần Văn B. Sau đó, C mang thai hộ cho anh ruột là Nguyễn Văn M và chị dâu là Phạm Thị K sinh ra Nguyễn Văn H. Do đó, H, M và C đều lấy họ Nguyễn. Trong thời gian còn nằm trong bụng mẹ (C) thai nhi H được mẹ C nuôi dưỡng qua trao đổi chất (qua máu) giữa mẹ C và con H. Khi C sinh ra H thì H không phải là con của C mà là con của anh M và chị K. Như thế, H gọi C là cô ruột, gọi M và K là cha mẹ ruột. Giả sử, H biết được C sinh ra mình thì H gọi C bằng mẹ và gọi M bằng cha. Vô hình chung, anh em ruột (C và M) trở thành cha mẹ của 1 đứa trẻ H. Nếu cấm không cho H gọi chị C bằng mẹ thì sẽ không có căn cứ và trái đạo lý “công sinh thành như công dưỡng dục”. Nếu cho H gọi chị C bằng mẹ, gọi M bằng cha thì nảy sinh nhiều bất cập trong đời sống xã hội, làm ảnh hưởng tới luân thường đạo lý như:

– Thứ nhất: Dư luận xã hội sẽ có người ngộ nhận cho là đó loạn luân bởi hiện nay trình độ dân trí có vùng, miền còn thấp nên họ chưa hiểu hết ý nghĩa của việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và kỹ thuật mang thai hộ như cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi… sẽ ảnh hưởng như thế nào tới di truyền, chỉ thấy em gái C mang thai của anh trai M thì họ nghĩ ngay đó là loạn luân.

– Thứ hai: Luật HNVGĐ cấm kết hôn hay chung sống như vợ chồng giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi 3 đời. Do đó, trong thời gian em gái C mang thai H 9 tháng 10 ngày, bào thai phát triển là nhờ dinh dưỡng từ người mẹ qua máu truyền sang nuôi dưỡng thai nhi H, vậy giữa M, H và C có phải là dòng về máu trực hệ hay không, hiện nay dư luận vẫn còn hoang mang vì ông bà ta có câu: “Cha sanh mẹ đẻ”.

– Thứ ba:
Khi đứa bé sinh ra không phải là con của người được nhờ mang thai hộ (C) mà là con của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ (M và K), tuy nhiên khi H biết được C là người trực tiếp sinh ra H thì chắc hẳn H sẽ gọi chị C (người mang thai hộ) là mẹ bởi đó là công nuôi dưỡng, mang nặng, đẻ đau , khi H không gọi người sinh ra mình (C) bằng mẹ thì H là người bất hiếu, chắc hẳn bị xã hội lên án và chỉ trích, bởi hành vi đó trái với lương tâm, đạo lý. Khi đó, anh trai là cha H còn em gái là mẹ H sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề giáo dục đối với con cái về sau.

Vì vậy, để giữ nghiêm luân thường đạo lý của người Việt nam nói chung và gia đình, dòng họ nói riêng việc điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là cần thiết vừa mang tính nhận đạo và vừa mang tính nhân văn sâu sắc, được xã hội chấp thuận tuy nhiên cần quy định rõ hơn, giải thích cụ thể hơn, không nên quy định nhờ người thân thích cùng hàng với bên người chồng mang thai hộ để tránh sự hiểu nhầm, trái với luân thường đạo lý, vi phạm chuẩn mực đạo đức xã hội. Đồng thời, Luật HNVGĐ quy định như thế là không khả thi vì không thể anh em trai nhờ chị em gái ruột hay chị em gái con bác, chú, cô, dì ruột mang thai hộ, đưa nhau đến cơ sở y tế kiểm tra thai nhi, anh ruột chăm sóc thai nhi của em ruột… thì không người nào có đủ can đảm để làm việc đó và lương tâm con người cũng không cho phép họ thực hiện những quy định đó của pháp luật, họ sẵn sàng chấp nhận sự thiệt thòi, hiếm muộn để bảo vệ tình huynh đệ, danh dự cho gia đình và dòng họ.

Từ những phân tích và quan điểm nêu trên, để bảo đảm luân thường, đạo lý, thuần phong mỹ tục, chuẩn mực đạo đức xã hội nên đề nghị cần sửa đổi quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 95 Luật HNVGĐ: “ Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ ” thành: Là người thân thích cùng hàng của bên vợ nhờ mang thai hộ (bỏ cụm từ “hoặc bên chồng”). Bởi vì, nếu người được nhờ mang thai hộ là người thân thích cùng hàng bên vợ của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ thì đứa trẻ sinh ra không bị ảnh hưởng gì đến tâm sinh lý, phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt nam, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội vì thực tế trong xã hội có hai chị em gái ruột kết hôn với một người đàn ông (Nếu chị hoặc em chết), nên sẽ được xã hội đồng thuận và không vi phạm điều cấm theo Khoản 2 Điều 5 Luật HNVGĐ, nên sẽ khả thi. Hơn nữa, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ cũng cần giải thích rõ hơn để khi người con sinh ra họ hiểu được cội nguồn để họ có nhận thức đúng đắn trong quan hệ hôn nhân và gia đình về sau, tránh để xảy ra những cuộc hôn nhân cùng dòng máu về trực hệ hoặc vi phạm luân thường, đạo lý sẽ gây ra hậu quả khó lường trong cuộc sống.

Trên đây là những phân tích về điều kiện và những vướng mắc khi mang thai hộ mà nhiều người còn đang lo lắng, nếu có bất kỳ khó khăn trong quá trình làm thủ tục mang thai hộ hay thắc mắc về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo bạn hãy liên lạc với chúng tôi để được giải đáp một cách nhanh chóng và đúng nhất nhé.

Share.

About Author

Leave A Reply

Hỗ Trợ Trực Tuyến
icon phone
Hotline: (04) 3795 7776 - (04) 3795 7779